Một sản phẩm văn hóa do N.Q.T thiết kế và xuất bản năm 2012.
Ngoài
hai mươi tuổi, tôi cùng vài ba anh em thân quen đồng trang lứa khác
chơi nhạc cho khá nhiều nơi trong thị xã. Thu nhập kể ra cũng không đến
nỗi nào nhưng quan trọng là vào thời điểm ấy, tính mạng mình được an
toàn hơn là phải ra mặt trận. Một hôm, khoảng hơn 20 giờ, sau khi chơi
nhạc, chúng tôi đang sửa soạn rời câu lạc bộ Đại Hàn (Korea Club)-nằm
trên đường Hùng Vương (đường Hoàng Diệu cũ, chỗ sát tường rào Nhà Văn
hóa Lao động, gần đối diện với cổng Trường THPT Chuyên Hùng Vương bây
giờ) để trở về nhà thì có một tốp người đi vào. Sở dĩ hàng đêm chúng tôi
phải về sớm là vì, hồi đó, chừng 22 giờ hoặc trước 22 giờ một chút,
Pleiku đã phát lệnh giới nghiêm, cấm người dân ra khỏi nhà.
Tôi
nhìn thấy trong nhóm đang đi vào ấy có mấy người tôi biết mặt, biết tên
từ trước, số còn lại thì sau lần gặp gỡ ấy, tôi mới biết họ. Đó là nhạc
sĩ Phạm Duy, nhà thơ Kim Tuấn (tức Nguyễn Phước Vĩnh Khuê (1938-2003),
quê Hà Tĩnh, hậu duệ của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, tác giả các lời thơ
được phổ nhạc nổi tiếng như Những bước chân âm thầm, Anh cho em mùa
xuân, đồng thời là thầy dạy tiếng Anh của anh em tôi ở Pleiku), đại úy
quân cảnh Nguyễn Vinh Hiển (nhà văn Hoàng Khởi Phong, tác giả của tiểu
thuyết Người trăm năm cũ, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 2009).
Rạp Chiếu bóng Thanh Bình, năm 1969. Ảnh tư liệu, N.Q.T sưu tầm.
Cùng
đi với những văn nghệ sĩ ấy còn có một vài người khác nữa. Nhưng cho
đến tận bây giờ, tôi vẫn không sao quên được một người đã gây cho tôi
những ấn tượng mạnh trong buổi tối hôm ấy. Người ấy trẻ, trạc tuổi tôi,
mặc một tấm áo màu xám, sau lưng có dòng chữ LCĐB in đậm.
Thấy
chúng tôi đứng dậy toan về, nhạc sĩ Phạm Duy nói: Ở nguyên đó đi, có
việc cần đấy. Chúng tôi miễn cưỡng chờ, dù trong lòng ai chắc cũng đã
nóng như lửa đốt, vì giờ giới nghiêm đã tới rồi. Dường như biết sự lo
lắng của mấy anh em nhạc công, ông Phạm Duy lại bảo: Lát có xe đưa về.
Cứ yên tâm. Đến nước này thì chúng tôi cũng đành yên tâm vậy, vả lại có
ông sĩ quan quân cảnh ở đây, chắc chúng tôi sẽ không bị làm phiền vì về
nhà lúc đã quá giờ quy định.
Nhạc sĩ Phạm Duy kéo ghế ngồi
xuống, mấy người đi cùng lặng lẽ tản ra xung quanh. Ông lấy trong túi
cái áo màu đen đang mặc ra một tờ giấy và một cây bút rồi bắt đầu kẻ các
dòng nhạc rất nhanh. Một lát sau, thấy chúng tôi đã đứng, ngồi sẵn sàng
bên các nhạc cụ quen thuộc của mình, ông hất hàm bảo: Đô trưởng, boston
nhé. Và thế là ông cầm tờ giấy hát trước, mấy anh em tôi đệm theo sau.
Ngoài trời lúc ấy có mưa nhưng không nặng hạt lắm.
Giọng Phạm
Duy lúc bổng khi trầm khá cuốn hút. Ông dứt lời, mọi người vỗ tay chúc
mừng. Tôi nhớ, hình như Phạm Duy hát xong có đặt tờ giấy xuống bàn, gạch
sửa chút ít gì đó, hát lại một vài câu rồi mới gấp nó lại bỏ vào túi áo
thì phải. Riêng người đặc biệt của tôi đêm ấy thì không nói gì, anh
lặng lẽ ngồi đó cho đến khi chúng tôi được một chiếc xe Jeep đưa về tận
nhà, mà không bị ai xét hỏi dọc đường. Lúc ấy, tôi đã biết: Anh là Vũ
Hữu Định, một người lính phản đối chiến tranh nên bị đày lên mặt trận
cao nguyên nguy hiểm trong màu áo LCĐB (lao công đào binh).
Nhiều chục năm đã trôi qua, bài thơ Còn một chút gì để nhớ của Vũ Hữu
Định sau khi được Phạm Duy chắp cánh, có thể nói đã trở nên bất tử, suốt
từ sau những năm 1970 của thế kỷ trước đến nay. Tôi rất thích khi có
người viết rằng Vũ Hữu Định (và cả Phạm Duy nữa) đã đội vương miện cho
thành phố này-Phố núi Pleiku. Tôi biết Vũ Hữu Định từ dạo ấy. Nhưng cũng
phải nói thật, ban đầu, tức cái đêm hôm đó, tôi quý anh không phải vì
thơ, mà chính là vì thấy… lạ quá, nể phục trong lòng quá.
Trong
đầu tôi bao năm vẫn cứ mãi loanh quanh một câu hỏi: Tại sao những văn
nghệ sĩ nổi tiếng như thế lại cất công đi tìm anh, chơi với anh, coi anh
như bạn bè thân thiết, trong khi anh đang là lao công đào binh, một
người đã phải đứng trước tòa án binh lãnh án, bị đày ra phục dịch tại
mặt trận, nơi cái chết có thể đến bất cứ lúc nào? Sau này tôi mới hiểu,
đằng sau thân hình thấp nhỏ kia, bên trong tấm áo xám ấy là cả một tâm
hồn lớn của một tài năng. Và, những người lớn đã vì tài năng mà quý
nhau, đến với nhau, bất kể thân phận cụ thể…
Rất nhiều năm sau,
khi tập thơ của Vũ Hữu Định được Nhà Xuất bản Trẻ ấn hành, internet đã
phổ biến rộng rãi và nhất là khi nhạc sĩ Phạm Duy trở về Việt Nam định
cư, thường tổ chức các đêm diễn lớn, tôi đã đọc thêm được ở đâu đó những
thông tin về bài thơ Còn một chút gì để nhớ. Rằng nó đã được viết hồi
năm 1970, từng được đăng trên tạp chí Khởi hành… Nhạc sĩ Phạm Duy trong
một lần lên Pleiku tìm cảm hứng sáng tác, đã gặp Vũ Hữu Định và như ông
từng viết thì: Vũ Hữu Định chính là một thi sĩ đích thực. Giống nhiều
người khác, khi phổ thơ, vẫn thường thêm vào hay bớt đi một vài câu chữ
của nguyên bản, nhưng riêng với Còn một chút gì để nhớ thì Phạm Duy
“kính trọng hoàn toàn bố cục (structure) cũng như vận tiết (prosodie)
của thi phẩm”-như ông thừa nhận.
Có thể, sau cái lần tự tay
viết những nốt nhạc đầu tiên cho tác phẩm của mình tại Pleiku ấy, nhạc
sĩ Phạm Duy còn chỉnh sửa thêm nữa trước khi công bố để bài hát trở nên
nổi tiếng. Nhưng với tôi, đó là một kỷ niệm khó quên, dù vào thời điểm
ấy, tôi chưa hoàn toàn ý thức được vấn đề, vì bài hát chưa được ai biết,
ngoài tác giả, vài bạn bè của ông, trong đó có Vũ Hữu Định và chúng
tôi-những người chơi nhạc tình cờ được Phạm Duy nhờ vả chút ít trước giờ
giới nghiêm, thời mà Pleiku còn như là... trại lính.
Pleiku từ
một thị xã bé nhỏ, nay đã được mở rộng, khác xưa rất nhiều. Tôi đã ở
đây suốt từ thời ấu thơ, cho đến lúc về già, chứng kiến biết bao thay
đổi. May mắn thay, dù cuộc sống có biến động thế nào đi chăng nữa, tôi
vẫn được làm công việc mà mình yêu thích, đó là chơi nhạc và dạy nhạc.
Trong cơ man âm thanh vang lên mỗi ngày ấy, tôi và rất nhiều những bạn
trẻ yêu nhạc, vẫn dành những tình cảm trìu mến cho thành phố này. Chúng
tôi đã yêu quý, gắn bó với Phố núi Pleiku, một phần vì âm nhạc, trong đó
có tác phẩm của Phạm Duy-Vũ Hữu Định-Còn một chút gì để nhớ.